Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

Tin tức: Danh xưng các triều đại của Trung Hoa thành lập như thế nào?


Trải qua 5000 năm lịch sử, những triều đại của Trung Hoa nối tiếp nhau có mặt trên thị trường và bị diệt vong. Mỗi 1 triều đại ra đời đều sở hữu 1 danh xưng biệt lập. Cổ ngữ nói: “Danh ko chính ngôn ko thuận” do vậy việc xác lập tên luôn được tiến hành ngay khi triều đại được thiết lập, và được coi là danh chính, theo tin tức. Có thể tìm hiểu thêm Tin tức tại https://www.dkn.tv/




Theo tin tức, vậy danh xưng của mỗi triều đại là do yếu tố nào quyết định? Chủ yếu bắt nguồn trong khoảng 5 duyên cớ. Thứ nhất nó bắt nguồn từ danh xưng của bộ tộc, liên minh bộ lạc. Thứ 2 là bắt nguồn từ tên địa danh. Thứ ba là phong hiệu hoặc tước vị của người sáng lập. Thứ tư là đặc sản của địa phương. Thứ năm là từ tên gọi khu vực ban đầu hoặc nơi đang thống trị, quan hệ tông tộc hay hàm nghĩa của từ chậm tiến độ trong sách cổ như ngụ ý cát tường…

1. Nhà Hạ: Theo truyền thuyết, vua Vũ từng được thụ phong ở Hạ Bá, thành ra ông gọi chính quyền của mình là “Hạ”. Với 1 truyền thuyết khác chậm triển khai là theo nhà sử học Phạm Văn Lan, sau lúc con của vua Vũ là Khải dời về Đại Hạ (khu vực Phần Quái, phía nam Sơn Tây), mới xưng là “Hạ”.

2. Nhà Thương: Theo tin tức, tục truyền, thuỷ tổ nhà Thương là ông Khế từng mang công giúp vua Vũ trị thuỷ nên được thụ phong ở đất Thương nên về sau lấy “Thương” để gọi bộ lạc của mình. Vua Thang sau khi diệt nhà Hạ đã lấy “Thương” làm quốc danh. Về sau, Bàn Canh dời tới đất Ân nên cũng gọi là “Ân” hoặc “Ân Thương”.

3. Nhà Chu: Bộ lạc Chu tới thời Cổ Công Đản Phủ dời đến vùng đất Chu. Theo tin tức, Vũ Vương sau lúc diệt nhà Ân đã lấy “Chu” làm biệt hiệu của triều đại. Quá trình đầu nhà Chu dựng đô ở Hạo. Tới thời Bình Vương thì dời đô về phía đông là Lạc Ấp, vì ở phía đông của Hạo nên nhà Chu mang tên hiệu là “Tây Chu” và “Đông Chu”.

4. Nhà Tần: Theo ghi chép trong cuốn “Sử Ký” thì Tần vốn là một bộ lạc thời cổ. Thủ lĩnh Phi Tử vì mang công nuôi ngựa cho Chu Hiếu Vương, nên được Chu Hiếu Vương ban cho họ “Doanh”, đồng thời tặng cho một vùng đất. Sau này, ông lại với công cứu nhà Chu nên được phong khiến cho chư hầu. Khi Tần Thuỷ Hoàng hợp nhất 6 nước thì khởi đầu xây dựng nước Tần.

5. Nhà Hán: Theo tin tức, Hạng Vũ phong lưu Bang khiến Hán Vương, sau khi Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ, hợp nhất Trung Quốc, đã đặt quốc hiệu là “Hán”. Thời kỳ đầu, nhà Hán đóng đô ở Trường An, về sau đóng đô ở Lạc Dương, do vậy giả dụ xét về đô thành mà đề cập sẽ có “Tây Hán” và “Đông Hán”, nếu như xét về thời gian thì sở hữu “Tiền Hán” và “Hậu Hán”.
6. Nhà Ngụy: Theo tin tức, Hán Hiến Đế từng phong Tào tháo là Nguỵ Công, Nguỵ Vương. Sau lúc Tào Phi thay nhà Hán đã xưng là “Nguỵ”. Vì hoàng thất họ Tào nên trong lịch sử cũng gọi là “Tào Nguỵ”.
7. Nhà Thục: Theo tin tức, Lưu Bị lấy Tứ Xuyên khiến cho khu vực hoạt động, Thục là chỉ Tứ Xuyên, nên chính quyền này được gọi là “Thục”. Trong lịch sử cũng gọi là “Thục Hán”. “Hán” ở đây là chỉ kế tục nhà Đông Hán.

8. Nhà Ngô: Theo tin tức, Tôn Quyền hoạt động ở khu vực hạ du Trường giang, trong lịch sử nơi đây từng có nước Ngô, Tào Nguỵ từng phong cho Tôn Quyền là “Ngô Vương”, vì vậy sử gọi là “Tôn Ngô”, cũng nhân vì ở phía đông nên cũng được gọi là “Đông Ngô”.

9. Nhà Tấn: Theo tin tức, Tư Mã Chiêu ép Nguỵ đế phong cho mình là “Tấn Công”.. Sau lúc diệt nhà Thục lại phong là “Tấn Vương”. Về sau, con là Tư Mã Viêm kế thừa tước vị, ép Nguỵ đế thoái vị, tự lập làm hoàng đế đặt tên nước là “Tấn”

10. Nhà Tùy: Cha của Tuỳ Văn Đế Dương Kiên là Dương Trung từng được nhà Bắc Chu phong là “Tuỳ Quốc Công”. Tuỳ Văn Đế kế tục trước chậm triển khai nên gọi là “Tuỳ triều”. Ông cho rằng, chữ này với nghĩa là đi theo, ngụ ý ko thấp nên đã đổi thành “Tùy”.

11. Nhà Đường: Ông nội của các con phố Cao Tổ Lý Uyên là Lý Hổ, vì với công giúp nhà Chu nên được phong là trục đường Quốc Công, tước vị truyền tới Lý Uyên. Sau khi cất binh ở Thái Nguyên, Lý Uyên xưng là “Đường Vương”, sau khi phế Dương Hựu thì lập ra triều trục đường.

12. Nhà Liêu: Theo tin tức, Liêu vốn xưng là Khiết Đan, sau đổi thành “Liêu”là bởi trú ngụ ở thượng du sông Liêu.

13. Nhà Tống: Sau lúc Cung Đế nhà hậu Chu kế vị đã sai Triệu khung Dận khiến cho Tiết độ sứ ở Quy Đức. Quân Quy Đức đóng tại Tống Châu Triệu khuông Dận khiến cho Tiết độ sứ Tống Châu. Sau vụ binh biến trần Kiều, do phát tích tại Tống Châu nên đặt quốc hiệu là “Tống”.

14. Nhà Tây Hạ: Theo tin tức, Thác Bạt Tư Cung chiếm cứ Hạ Châu, nên lúc lập quốc lấy Hạ Châu làm tên, xưng là “Đại Hạ”. Bởi vì ở phía Tây nên người Tống gọi là “Tây Hạ”.

15. Nhà Kim: Đô thành nhà Kim là Hội Ninh, bên sông Án Xuất Hổ. Tương truyền rằng sông này sản sinh ra vàng (kim), chữ “kim” đọc theo tiếng Nữ Chân là “Án Xuất Hổ”.

16. Nhà Nguyên: Theo ghi chép trong “Nguyên sử ” thì tên gọi “Nguyên” là do Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt đặt. Ông lấy từ chữ “Nguyên” ở câu “Đại tai càn nguyên” kinh Dịch, mang ý tức thị to, là trước tiên. Nhưng cũng với người cho rằng sự ra đời tên này với can hệ đến phong tục và totem (vật được coi là tượng trưng của dân tộc) của người Mông Cổ, cũng sở hữu người cho rằng nó với liên quan tới Phật giáo.

17. Nhà Minh: Chu Nguyên Chương là một trong các quân khởi nghĩa cuối đời nhà Nguyên, là kế thừa Quách Tử Hưng mà tăng trưởng lên. Quách Tử Hưng thuộc đơn vị Bạch liên giáo, Bạch liên giáo tuyên bố: “Hắc ám tức tương quá khứ, quang minh tương yếu đáo lai.” ý nói, mờ ám sắp qua, sáng tươi sắp đến để cổ vũ dân chúng chống lại sự thống trị của triều Nguyên, cho nên còn được xưng là “Quang minh giáo”.

Thủ lĩnh của Bạch liên giáo là Hàn Sơn Đồng xưng là “Minh vương”. Chu Nguyên Chương không chỉ từng sùng tín Bạch liên giáo mà còn thừa nhận mình là một trong các quân khởi nghĩa của Bạch liên giáo. Bởi thế, sau khi giành được chính quyền, Chu Nguyên Chương đặt quốc hiệu là “Minh”.

Từ khóa: tin tuc. Có thể tìm hiểu thêm tin tuc tại https://www.dkn.tv/